Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học ''

Ngày 18 tháng 01 năm 2021

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Góc tương tác » Góc giáo viên

Giáo viên: cảm và nghĩ....

Cập nhật lúc : 09:55 04/11/2012  
NHỚ BẮC-NỖI NHỚ LÀM NÊN VÓC DÁNG NHÀ THƠ


Ai về Bắc, ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. ...

NHỚ BẮC - NỖI NHỚ LÀM NÊN DÁNG VÓC NHÀ THƠ

(Cảm nhận nhân đọc lại bài thơ Nhớ Bắc

của Huỳnh Văn Nghệ)

NHỚ BẮC
                                   Huỳnh Văn Nghệ

Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!

Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng...

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền,
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi
Bao giờ mang kiếm trả dân ta?

...................................................

         Đọc bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ đã lâu, bây giờ đọc lại vẫn còn nguyên trong tôi những cảm xúc của ngày đầu tiên tiếp nhận thi phẩm. Lúc bắt đầu cho đến bây giờ tôi vẫn cứ ám ảnh bởi nỗi nhớ của thi nhân - chinh nhân trong bài thơ mà tác giả gói gọn lại và gửi trong một tựa đề hết sức giản dị nhưng không thể khác hơn: "Nhớ Bắc"! Tôi tẩn mẩn ngồi đếm: một, hai, ba, bốn, năm, có đúng năm từ "nhớ" trong một bài thơ chỉ có 5 khổ. Sẽ không có gì để nói, nếu nỗi nhớ ấy không gắn với hình ảnh của một thi nhân-chinh nhân-một người con miền Nam nhớ về cội nguồn tiên tổ. Tôi tạm gọi bằng một cụm từ "nỗi nhớ sử thi"-nỗi nhớ làm nên dáng vóc nhà thơ!


      Người thi sĩ ấy, đồng thời cũng là người chiến sĩ, một vị tướng tài, là một thi tướng - người con của làng Tân Tịnh (nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) vẫn đau đáu với sứ mệnh của dân tộc trong cơn binh lửa hung tàn. Dù "chinh Nam" nặng gánh giang sơn vẫn trĩu lòng một khao khát khôn nguôi hướng về Thăng Long địa linh nhân kiệt nơi thu hút tráng khí bốn phương muôn đời:
                                                    "Ai về Bắc, ta đi với
                                                     Thăm lại non sông giống Lạc Rồng
                                                     Từ độ mang gươm đi mở cõi
                                                     Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long"
         Câu thơ mở đầu đoạn thơ mới đọc lên nghe như một lời nói buột miệng phát ra hơn là một câu thơ: chỉ 6 âm tiết, đọc nghe không thuận tai trong mối tương quan với các câu thơ khác trong toàn bài. Đó có lẽ là câu thơ đảo phách duy nhất trong thi phẩm vốn mang hồn phách của một tác phẩm thất ngôn mẫu mực như bài Nhớ Bắc. Đọc kỹ tôi lại thấy có một sự thảng thốt của lòng chợt dấy lên khi từ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn thi nhân bỗng nhớ về Bắc, nhớ về Thăng Long kinh kỳ mà người con ở tận xứ cuối cõi này chưa một lần đặt chân đến. Cái thảng thốt ấy không phải là cái thảng thốt của người con ly hương nhớ về đất tổ. Đó là tình cảm thiêng liêng sâu thẳm của CON-NGƯỜI-CÔNG-DÂN - một công dân của miền Nam nhớ về kinh đô của muôn đời đế vương trong những năm tháng "mang gươm đi mở cõi" như cách nói của Huỳnh Văn Nghệ. Thế mới biết con người Việt Nam vốn ở đâu cũng gọi nhau bằng hai tiếng "đồng bào", tự hào đều là nòi giống Tiên Rồng; ở đâu họ cũng luôn hướng về phương Bắc bằng tất cả sự ngưỡng vọng, đặc biệt là trong những ngày binh lửa khôn nguôi làm đường về Bắc xa quá muôn trùng. Nên câu thơ thảng thốt kia của thi nhân không chỉ là lời nữa, mà là lời lòng, là khát vọng của người mang sứ mạng đi mở cõi:
                                                                              "Từ độ mang gươm đi mở cõi
                                                                               Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long"
        Hai câu thơ đã trở thành kinh điển, nghe vọng vang âm hưởng của tiền nhân kiếp nào chứ không phải là câu thơ của một thi tướng thời kháng Pháp mới đây. Có lẽ cái niềm thơ lai láng sự hào sảng ấy chảy miên man suốt dọc dài lịch sử, truyền lưu từ ngàn xưa tiền bối cho tận đến hậu sinh, đã gặp gỡ, tụ về trong tráng khí của Huỳnh Văn Nghệ để vút lên thành cảm hứng tráng ca đầy chất sử thi. Từ trời Nam thương nhớ về Thăng Long, nỗi nhớ đặc biệt ấy là cái ngang nối của tâm tình, của tư tưởng, gắn non sông liền một dải mà sứ mệnh cao cả của người chinh nhân là chiến đấu và hy sinh để có một ngày đường về Bắc không phải dài trong nỗi nhớ mong chờ, mà là thênh thang con đường thiên lý của người chiến thắng trở về báo công với tiên tổ muôn đời.
        Trong nguồn mạch của nỗi nhớ, Thăng Long đã trở thành tâm điểm của cảm hứng thi ca, của cảm hứng lịch sử, làmnên cảm hứng sử thi cho bài thơ. Bởi vậy, từ Thăng Long, cảm xúc của thi sỹ-chiến sỹ Huỳnh Văn Nghệ nhập vào cảm xúc trong hành trình mở cõi với nỗi nhớ hàm ơn tiền bối mở nghiệp:
                                                                              " Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
                                                                                Mà ta con cháu mấy đời hoang
                                                                                Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
                                                                                Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!"
        Bước chân của Nguyễn Hoàng và các bậc tiền bối khác đã cho thi nhân mảnh đất yêu dấu để chào đời, để lớn lên lòng nặng gánh non sông khi khói lửa đao binh vẫn phủ kín bốn phương trời, khiến trong lòng người, trong máu thịt mang tâm sự một nỗi "buồn xa xứ", "nặng nhớ thương" về "non nước Rồng Tiên".
Nỗi nhớ của Huỳnh Văn Nghệ cứ đan cài nhiều cung bậc, nhiều sắc thái, không chỉ gắn với những gì cao cả nhất mà còn vương mang những hình ảnh giản dị của cây trái lịm ngọt hai miền, của những làn điệu dân ca mềm lòng xứ sở:


                                                                             "Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ
                                                                             Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
                                                                             Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ
                                                                            Mỗi lần man mác hương sầu riêng..."
      Tiếng hát quan họ phương Bắc đắm say tình tứ vẫn ngân nga nhịp cùng điệu buồn câu vọng cổ phương Nam, thành tiếng nhớ tiếng thương quặn lòng người đi chinh chiến; và cũng thế, cây thơm trái ngọt vương hương quê nhà vẫn trìu mến cùng cây súng trên vai áo của người ra trận. Nỗi nhớ điệp trùng nỗi nhớ, nỗi nhớ không làm lòng người rũ xuống mà nỗi nhớ nâng tâm hồn chinh nhân bay bổng trong cuộc "chinh Nam", làm say bước người ra trận suốt dặm dài Tổ quốc.
      Nỗi nhớ song hành cùng sứ mạng ngàn thu đã tụ dồn trong cốt cách của người thi sỹ-chiến sỹ, trở thành trách nhiệm công dân với ý thức cao nhất, thành niềm say mê chiến trận:
                                                                                 "Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
                                                                                  Chinh Nam say bước quá xa miền,
                                                                                  Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!
                                                                                  Muốn trở về quê, mơ cánh tiên."
       Nhưng đường về quê, đường về kinh đô xa muôn dặm hồ dễ sớm quay về, dẫu "muốn trở về quê" cũng đành nhờ trí tưởng tượng giàu chất mơ mộng trên đôi cánh tiên mà tìm về cõi nhớ. Bởi chinh chiến vẫn bời bời khói lửa, đường về Bắc vẫn khao khát dặm dài, biết bao giờ binh lửa mới phai phôi:
                                                                                  "Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
                                                                                  Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
                                                                                  Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi
                                                                                  Bao giờ mang kiếm trả dân ta?"
      Khổ cuối bài thơ không một lần nhắc đến từ nhớ, nhưng một loạt địa danh, linh thần (Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Linh Quy) của Thăng Long được nhắc đến trong đó còn hơn cả nỗi nhớ, bởi nó là máu thịt trong tâm khảm của mỗi một người con nặng lòng cùng đất nước. Câu hỏi đau đáu trong câu thơ cuối là niềm khát vọng khôn nguôi về một ngày "giặc nước đuổi xong rồi trời xanh thành tiếng hát". Là nỗi nhớ xuyên suốt trái tim trong hành trình của người nơi cuối cõi hướng về Thăng Long đầu cõi nước non nhà. 
      Huỳnh Văn Nghệ đã nâng cái cảm xúc quen thuộc trong thi hứng của thi sỹ bao đời về Thăng Long - Hà Nội thành cảm hứng giàu chất sử thi hoành tráng, khiến nỗi nhớ của riêng mình thành nỗi nhớ của muôn người trong cuộc trường chinh vẫn mơ về "Hà Nội ơi một trái tim hồng".
Nhớ Bắc, vì thế đã là nỗi nhớ làm nên dáng vóc thi sỹ-thi tướng Huỳnh Văn Nghệ!

                                                        HOÀNG ĐỨC DIỄN

Chưa có bình luận nào cho bài viết này